Change

Đặc thù từng ngành - Economics

Thảo luận trong 'Ngành xã hội' bắt đầu bởi tucr21, 26 Tháng một 2010.

  1. tucr21 Moderator

    Làm thành viên từ:
    15 Tháng ba 2009
    Số bài viết:
    181
    Đã được thích:
    38
    Điểm thành tích:
    28
    Giới tính:
    Nam
    Nơi ở:
    Lynchburg, VA
    Reputation:
    0
    ECONOMICS


    I/ Giới thiệu ngành Kinh Tế học

    Nghiên cứu kinh tế ở bậc nghiên cứu sinh (PhD hay doctorate) là sự giao thoa giữa các phương pháp nghiên cứu các chuyên ngành tự nhiên, kỹ thuật và xã hội. Bạn có thể tìm thấy trên các top journal về kinh tế các bài báo có phong cách giống như các bài nghiên cứu về math, CS/EE hoặc law và sociology. Để theo học PhD kinh tế, bạn không cần có background về kinh tế. Dù học đại học ở bất kỳ chuyên ngành nào, bạn đều có thể nộp hồ sơ xin học PhD về kinh tế học. Tuy nhiên, bạn cần có khả năng học toán ở mức độ tối thiểu nào đó (tuỳ theo yêu cầu của từng trường), để có thể sống sót qua các kỳ thi prelim và QE, trước khi muốn theo đuổi hướng nghiên cứu ưa thích của mình.


    Các chuyên ngành :


    Economic History & Thought
    Econometrics
    Microeconomic Theory
    Labor & Consumer Economics

    IO / Business Economics
    Public Economics
    Macroeconomics
    Trade & Development
    Financial Economics
    Resource & Agricultural Econ

    1. Phân biệt kinh tế học với các ngành khoa học khác

    Kinh tế và Quản lý ở Việt nam thường bị hiểu lẫn lộn, trong khi người Mỹ phân biệt rõ ràng hai nhóm ngành này. Khoa Kinh tế ( bao gồm các ngành Macro Economics, Micro Economics, International Economics, Development, Game Theory, Econometrics.v.v...) thường nằm trong School of Art & Science. Trong khi đó các ngành quản lý, kinh doanh (finance, accounting, marketing, insurance... và các ngành management) thường nằm trong School of Business, hay còn gọi là B-school.
    Nghiên cứu Economics đỉnh cao thường chú trọng vào theoretical. Cụ thể là các trường hàng đầu có nhiều công trình nghiên cứu về theoretical hơn là empirical. Đa số các công trình nghiên cứu được giải Nobel cũng là về theoretical economics. Trong khi đấy, nghiên cứu ở B-school thường chú trọng vào empirical nhiều hơn. Tiêu chí tuyển chọn của các khoa Economics và B-school cũng khác nhau. Nộp hồ sơ vào Economics cần thi GRE, còn B-school cần thi GMAT.
    Thậm chí, người Mỹ còn phân biệt Economics và Agricultural & Resource Economics là hai khoa khác nhau, với các tiêu chí tuyển chọn khác nhau.
    Một lẫn lộn khác thường thấy là giữa các nghiên cứu về economics policies của khoa Economics và của khoa Public policies/management. Các bài báo ở trên các tạp chí kinh tế của Việt nam, các báo cáo của World bank, IMF, báo cáo Lựa chọn thành công của nhóm Harvard Fulbright Việt nam đều không phải là các paper chuẩn mực về kinh tế. Đấy chỉ là các bản tóm tắt các kết quả nghiên cứu kinh tế, các đề xuất chính sách dựa trên kinh nghiệm và dự báo, đã lược bỏ rất nhiều các công cụ/kỹ thuật định lượng, bởi không cần thiết đối với các độc giả không chuyên.
    2. Vai trò của định lượng trong nghiên cứu kinh tế.

    Kinh tế thường được xếp vào nhóm ngành social sciences, do đặc thù nghiên cứu về xã hội. Tuy nhiên, các tiêu chí tuyển chọn ở bậc sau đại học, phương pháp học và nghiên cứu kinh tế, có lẽ thiên về nhóm Engineering nhiều hơn.
    Kinh tế không phải là ngành chú trọng ngôn ngữ mà thiên về toán và định lượng. Điểm ngôn ngữ admission vào các khoa kinh tế thường khá thấp, tối thiểu chỉ cần TOEFL 550PBT/213CBT, hoặc GRE verbal 300 trở lên (mặc dù để được nhận financial aid, bạn cần TOEFL 600/250 trở lên giống như mọi ngành khác). Trong 3 năm đầu tiên học coursework, phần định lượng, bao gồm các kỹ thuật toán và định lượng, mô hình hóa, lập và giải các hệ phương trình, chứng minh các định lý, bổ đề, chiếm khoảng 90% thời gian. Phần phân tích, bình luận định tính chỉ chiếm khoảng 10% thôi.
    Số lượng paper bắt buộc phải đọc ở mỗi courses cũng khá ít, chỉ khoảng 8-10 paper cho mỗi học kỳ, (mặc dù danh sách paper đọc thêm cũng khá nhiều). Tuy nhiên, khối lượng các công cụ và kỹ thuật định lượng cần học để hiểu hết các paper rất lớn, cho nên các khoa kinh tế thường không đủ thời gian để chú trọng vào phần đọc và viết bình luận như nhiều ngành xã hội khác. Các nghiên cứu sinh thường phải tự hoàn thiện các kỹ năng này khi bước vào giai đoạn nghiên cứu.
    Cũng chính vì tuyển chọn Phder thiên về khả năng định lượng, không cần kinh nghiệm làm việc, cho nên sinh viên trẻ, đầu 2x, chiếm đại đa số ở bậc Phd. Các khoa kinh tế cũng rất khuyến khích các sinh viên có background về math, physics và engineering chuyển sang học Phd, bởi họ cho rằng những người này có background vững về định lượng. Thông thường, số sinh viên này chiếm khoảng 50-70% ở bậc Phd về kinh tế ở mỗi khoa.
    Có thể nói không ngoa rằng, độ khó và độ nặng về mặt định lượng của khoa kinh tế không hề thua kém bất kỳ ngành Engineering nào.
    Đến đây một số người sẽ thắc mắc, tại sao nhiều người có background ở các ngành ít định lượng, (ví dụ như văn học, ngôn ngữ, lịch sử, hay âm nhạc, hội họa...) cũng có thể chuyển sang học Phd về kinh tế? Điều này có một số nguyên nhân:
    + Một số người có chỉ số IQ cao, có thể học tốt ở nhiều ngành hoàn toàn khác nhau. Vì lý do nào đó, họ chọn các ngành ít thiên về định lượng ở bậc đại học. Tuy nhiên, khi nộp hồ sơ vào bậc Phd, hồ sơ của nhóm người này sẽ bị săm soi rất kỹ về năng lực toán học. Nếu thiếu nhiều các credit về toán hoặc các điểm đó không cao thì sẽ chắc chắn không thể có admission. Thông thường, những người có background ít các môn toán đều phải lấy thêm 1 số các credit về toán ở bậc đại học và/hoặc sau đại học, và phải chứng minh được năng lực toán của mình trên bảng điểm khi nộp hồ sơ Phd.
    Một ví dụ thành công điển hình trong nhóm này là Robert Lucas. Ông này học đại học về lịch sử. Sau đó lấy thêm 1 số credit bậc under và grad về math ở Berkeley rồi vào học Phd Chicago. Cuối cùng, ông đoạt giải Nobel kinh tế năm 1995.
    + Tuy nhiên, admission mới chỉ là một nửa câu chuyện. Bậc Phd kinh tế thậm chí rất khác so với hình dung của những người có background đại học về kinh tế. Chính vì vậy, các khoa kinh tế còn có thêm 1 kỳ thi gọi là thi Prelim ở cuối năm thứ 1 để loại ra những người không phù hợp, bên cạnh kỳ thi Qualifying Exam (cuối năm 2, 3 hoặc 4 tùy theo quy định của từng trường). Kỳ thi prelim này thậm chí còn quan trọng hơn kỳ thi Q.E nhiều, do tính chất khốc liệt của nó (có thể loại từ 30-60% sinh viên Phd của khoa, tùy theo từng năm và từng trường). Năm đầu tiên, Phder về kinh tế thường học 7 courses. Các course này đều chú trọng bổ túc kiến thức về math và định lượng. Những người không có năng khiếu hoặc chưa chuẩn bị tốt các course về math sẽ khó có thể vượt qua được kỳ thi này.
    + Sau khi vượt qua năm thứ nhất, hai năm học coursework tiếp theo, sinh viên vẫn tiếp tục được bổ xung các phương pháp/kỹ thuật định lượng. Mặc dù tên các môn học là macro, micro, financial economics...nhưng nội dung chủ yếu được giảng dạy vẫn là các kỹ thuật định lượng và mô hình hóa. Sinh viên chỉ được giải thích về các khái niệm/thuật ngữ cơ bản để sử dụng trong quá trình mô hình hóa. (Nhiều khi, giáo sư cũng chẳng giải thích mà chỉ viết hệ phương trình lên bảng rồi giải ào ào. Sinh viên phải có nghĩa vụ tự tìm hiểu các khái niệm ấy). Các kiến thức thực tế về kinh tế vỹ mô, vi mô, tài chính, phát triển...hầu như không được giảng, hoặc chỉ được giảng rất ít, trong quá trình học. Sinh viên Phd phải tự đọc khi bước vào giai đoạn nghiên cứu.
    + Cuối cùng là khác với các ngành Engineering, có thể bắt tay vào research ngay từ năm thứ 1, sinh viên Phd Economics hầu như chỉ bắt đầu research từ năm thứ 3, sau khi đã học gần xong các công cụ/kỹ thuật định lượng. Ngoài ra, số courses bắt buộc đối với 1 Phd về kinh tế thường cũng nhiều hơn các ngành Engineering. Đấy là lý do vì sao các sinh viên có background yếu về định lượng vẫn có thể theo học Phd về kinh tế.
    Các bạn có thể xem các G.S Athey và G.S Mankiw nói về lý do cần chú trọng math trong kinh tế: http://kuznets.harvard.edu/~athey/imagineart.html hoặc http://gregmankiw.blogspot.com/2006/...need-math.html
    Các môn toán ở bậc đại học mà sinh viên VN cần nắm vững trước khi nộp hồ sơ Phd kinh tế là: đại số tuyến tính, quy hoạch tuyến tích, phương trình vi phân/phương trình đạo hàm riêng, giải tích số & hàm, hình giải tích, xác xuất & thống kê, giải tích lồi, và ở bậc sau đại học là giải tích thực, giới thiệu nhập môn về topo và lý thuyết trò chơi (nếu có thể).
    Ngoài ra, hai cuốn sách có thể tham khảo là Fundamental Methods of Mathematical Economics, của Alpha Chang và Mathematics for Economists của Carl P. Simon and Lawrence Blume.

    Yêu cầu tối thiểu về năng lực toán của mỗi trường mỗi khác, (Yêu cầu của Harvard hẳn là khác với trường rank 50 và càng khác với trường rank 100). Tuy nhiên, khối lượng chương trình học Phd khá nặng, nếu các bạn có thể chuẩn bị trước được các courses này trước khi vào học Phd thì sẽ tốt hơn nhiều. Ngay cả các giáo sư hàng đầu của Mỹ thời đi học cũng thường chuẩn bị như vậy.
    Năng lực toán chỉ là điều kiện cần, không đủ để đảm bảo thành công trong nghiên cứu kinh tế. Tuy nhiên, tôi vẫn phải nhấn mạnh việc chuẩn bị tốt các kiến thức toán bởi tôi từng biết nhiều sinh viên VN đã gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình học Phd Econ.
    Ngoài ra, không phải vô lý mà đa số các giải Nobel kinh tế được trao cho những người đã từng có background về toán (BA/MA/PHD). Ở bài trước tôi đã từng viết, những paper nghèo về mặt định lượng cũng có thể xuất hiện trên các top journal về kinh tế. Tuy nhiên, đó phải là các paper mang tính đột phá, đặt nền móng cho một nhánh nghiên cứu hoàn toàn mới hoặc cho một ngành kinh tế mới. Có nghĩa là yêu cầu cao hơn đối với các paper thiên về định lượng.
    II/ Xếp hạng các chương trình Kinh Tế học

    Có rất nhiều bảng xếp hạng khác nhau trong lĩnh vực kinh tế. Tựu chung thường có hai cách đánh giá. Cách thứ nhất là xếp hạng dựa vào các bài báo mà mỗi khoa/viện kinh tế đăng báo (ranking based on publication capacity). Cách thứ hai là dựa vào khả năng đưa những sinh viên sau khi lấy bằng tiến sỹ vào được những khoa/viện kinh tế hàng đầu (ranking based on PhD placements).
    Cả hai phương pháp này đều có những thiếu sót.
    Đối với phương pháp dựa vào số bài báo đăng, có những khoa kinh tế không có nhiều giáo sư thật sự xuất sắc nhưng nhờ có số lượng giáo sư nhiều nên dẫn đến số lượng bài báo đăng nhiều, xếp hạng cao hơn một số khoa khác mặc dù có ít giáo sư hơn nhưng chất lượng giáo sư cao hơn hẳn. Một ví dụ khác đó là khi mà các trường nằm cạnh nhau và các khoa kinh tế của các trường cùng hợp tác để hướng dẫn chương trình nghiên cứu sinh thì xếp hạng này càng khập khiễng vì nó chỉ xếp hạng từng trường riêng rẽ. Ví dụ như Stockholm Doctoral Program in Economics do hai trường Stockholm University và Stockholm School of Economics hợp tác hoặc Berlin Doctoral Program in Economics and Management Science do một nhóm trường đại học ở Berlin hợp tác.
    Tương tự, đối với phương pháp xếp hạng dựa vào khả năng đưa những sinh viên sau khi lấy bằng tiến sỹ vào những khoa/viện kinh tế hàng đầu, có những khoa kinh tế thật sự xuất sắc ở một lĩnh vực nhỏ và do đó có một vị trí tốt trên bảng xếp hạng. Ví dụ trong bài báo "Ranking Economics Departments Worldwide based on the basis of PhD Placement" của Rabah Amir và Malgorzata Knauff năm 2005, Pennsylvania State University có một ví trí khá cao, hơn hẳn Columbia University và New York University, nhưng lĩnh vực kinh tế vĩ mô của khoa kinh tế Pennsylvania State University rất yếu (vào thời điểm năm 2009) so với Columbia University và New York University.
    Ngoài ra, môi trường học thuật của một trường đại học rất quan trọng. Những trường có những khoa kinh tế nhỏ nhưng chất lượng có giá trị hơn là những trường có số lượng giáo sư đồ sộ nhưng không ai thật sự xuất sắc.
    Những bảng xếp hạng đáng tin cậy và nên tham khảo đó là:
    - Economics của US News & World Reports.
    - Rankings at IDEAS.

    Tuy nhiên, điều quan trọng nhất đối với một nghiên cứu sinh đó là người hướng dẫn. Do đó, sau khi xem xét sơ các bảng xếp hạng, bạn hãy chọn một danh sách các trường nhắm vào, sau đó vào từng trang web của trường để xem CV của từng giáo sư, nếu có thời gian xem luôn vị trí mà các sinh viên sau khi tốt nghiệp từ trường nhận được là gì (placement). Khả năng đăng được các bài báo ở các tạp chí hàng đầu nói lên trình độ của giáo sư. Vị trí mà các giáo sư đã từng nắm giữ cũng rất quan trọng; một giáo sư từng giữ vị trí cố vấn chính phủ hay các định chế quốc tế như IMF hay World Bank thường có kinh nghiệm dồi dào, và quen biết rộng (rất có ích khi bạn ra trường và cần một thư giới thiệu).

    Khi nộp đơn bạn nên chọn ra một danh sách các trường gồm 3 loại:
    - Trường trong tầm tay.
    - Trường xa tầm tay một chút.
    - Trường chắc chắn vào được.
    III/ Một số vấn đề cần lưu ý khi nộp hồ sơ


    Ngoài quy trình nộp hồ sơ hệ sau đại học dành chung đối với sinh viên Việt Nam nộp hồ sơ tới các trường đại học Mỹ theo chương trình Thạc sĩ hoặc Tiến sĩ, một số vấn đề khác trong quá trình nộp hồ sơ ngành kinh tế học cũng cần lưu ý.
    1. Các môn học cần chú trọng ở hệ đại học

    Các trường quan tâm nhiều hơn đến việc bạn đã học và vượt trội trong các môn học khó như thế nào hơn là điểm GPA nói chung. Bạn nên đề cập tới trong SOP của mình vì các trường sẽ không thể biết được các lớp toán như thế nào, và lớp nào là lớp nâng cao vv. Môn phân tích cũng là một điểm quan trọng mà bạn nên đề cập trong hồ sơ, vì nó đòi hỏi bạn cần có những chứng minh logic và có tính quy chuẩn. Thông thường các ứng viên nặng kí là những người có điểm mạnh gì đó, ví dụ như giỏi toán hoặc có luận văn xuất sắc, có bài nghiên cứu nổi bật. Một số điểm thấp trong năm đầu sẽ không làm hồ sơ của bạn kém đi nếu như bạn học tốt trong các lớp nâng cao trong các năm sau đó.
    2. Thư giới thiệu

    Một lá thư giới thiệu tốt nhất là từ các nhà kinh tế học có liên hệ với trường mà bạn đang nộp hồ sơ. Tuy nhiên, một lá thư giới thiệu từ người mà bạn đã làm việc cùng sau khi tốt nghiệp đại học cũng rất hữu ích để đề cập đến sự trưởng thành và thái độ làm việc của bạn vv. Nếu bạn không có mối quan hệ nào với các giáo sư kinh tế (ví dụ bạn là sinh viên ngành toán) hoặc nếu bạn học ở một trường đại học mà không có người nào trong khoa của bạn có mối liên hệ với các chương trình PhD hàng đầu, bạn vẫn có cơ hội được nhận (admission) nếu như các phần khác trong hồ sơ của bạn thực sự nổi trội. Điểm GRE, điểm học các môn nặng về toán, và essay được chú trọng nhiều hơn và nên cố gắng để hội đồng tuyển sinh đánh giá đúng các yếu tố đó của bạn. Một lá thư giới thiệu tốt nên có sự so sánh giữa bạn với các sinh viên khác trong các chương trình cao học hàng đầu, ví dụ để xin học được ở Harvard hay MIT, lá thư giới thiệu cần phải chỉ rõ bạn khác biệt như thế nào so với các sinh viên đã học và thành công trong các chương trình này. Đối với sinh viên quốc tế, việc đánh giá bảng điểm trở nên khó khăn hơn, vì vậy các so sánh này càng phải chú trọng. Các câu nhận xét cần đề cập một cách cụ thể như là so sánh khả năng phân tích, học các môn học, chất lượng luận văn ...
    3. Bài luận


    Trong hồ sơ xin học, việc đề cập đến lĩnh vực kinh tế mà bạn quan tâm, và các bài báo mà bạn đã đọc rất quan trọng. Cố gắng càng chi tiết càng tốt. Bạn cũng có thể đề cập đến luận văn hoặc là kinh nghiệm nghiên cứu của mình. Không cần thiết phải có một đề xuất nghiên cứu cụ thể nào đó, đặc biệt khi bạn cũng không thực sự có ý tưởng gì cụ thể nhưng lại thể hiện trong hồ sơ một cách ngây ngô. Phần lớn các trường chỉ đọc những phần này để xem bạn quan tâm đến lĩnh vực nào và có ý niệm liệu bạn thực sự muốn đi sâu vào lĩnh vực nào. Vì vậy bạn cần đề cập một cách thông minh về đề tài mình quan tâm để tỏ ra là bạn hiểu biết một chút gì đó về lĩnh vực nghiên cứu sắp tới.

    4. GRE

    Điểm phần qualitative của GRE khá quan trọng vì vậy bạn cần chú trọng khi ôn thi hơn, đặc biệt đối với những bạn không phải chuyên ngành kinh tế ở hệ đại học.
    5. Liên hệ giáo sư

    Bạn không nên liên hệ giáo sư tại trường mà bạn nộp hồ sơ tới trước khi có chấp nhận học (admission). Việc tìm hiểu về advisor cũng rất quan trọng vì đây là người ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ quá trình nghiên cứu học tập và tương lai công việc của bạn sau này.

    IV/ Học bổng và các nguồn hỗ trợ tài chính

    Chương trình học bổng Fulbright: vietnam.usembassy.gov/fulbright.html
    Học bổng assistantship cho chương trình Master's:

    1. University of Cincinnati.
    2. University of New Hampshire
    3. Northeastern University.
    4. Northern Illinois Univ
    5. Portland State University
    6. Wright State University
    V/ Một số điều cần lưu ý trong quá trình học tập

    1. Tìm chủ đề nghiên cứu

    Thông thường, một sinh viên PhD Econ cần có 3 working papers, trước khi có thể bắt tay vào viết dissertation. Dưới đây là hướng dẫn của G.S Don Davis về tìm chủ đề cho paper và dissertation (cho cả theoretical và empirical research).
    www.columbia.edu/~drd28/Thesis%20Research.pdf
    2. Phương pháp học và chuẩn bị cho các kì thi

    Chương trình Phd kinh tế của các trường ở Mỹ khá khắc nghiệt, không chỉ do khối lượng chương trình học mà còn do các kỳ thi Prelim (năm thứ 1) và Q.E năm (thứ 2 hoặc 3 tùy theo quy định của từng trường). Tất cả các sinh viên trong khoa đều phải tham dự kỳ thi prelim cùng một lúc và với nội dung giống nhau, bất kể mỗi người trong số họ dự định theo đuổi hướng nghiên cứu nào sau đó.
    Matthew Pearson nêu một số kinh nghiệm để tồn tại ở bậc PhD và hướng dẫn chuẩn bị cho các kỳ thi lớn. Ngoài ra G.S Hal Varian và Jonathan Shewchuk nêu các kinh nghiệm xây dựng các mô hình kinh tế và chuẩn bị academic talks.
    www.econphd.net/downloads/mp_surv.pdf
    people.ischool.berkeley.edu/~hal/Papers/how.pdf
    3. Viết paper

    G.S Cochrane hướng dẫn rất tỉ mỉ cách viết paper trong khi G.S Kremer bổ xung một danh sách những điều cần lưu ý trong quá trình viết.
    http://faculty.chicagobooth.edu/john...er_writing.pdf
    http://www.economics.harvard.edu/fac.../checklist.pdf

    4. Đăng bài trên các tạp chí chuyên ngành

    Paper đăng trên Top Journal có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình xin việc làm và xét duyệt tenure. Thời hạn trung bình để được đăng một bài báo thuộc ngành kinh tế trên Top Journal cũng khá dài so với nhiều ngành khác. (Trung bình từ khi nộp đến khi bài được đăng là 3 năm. Trong khi mỗi assistant prof phải đăng tối thiểu 1-4 bài, tùy theo quy định của từng trường. Và thời gian cho phép họ đăng đủ số bài để được nhận tenure là khoảng 6 năm). Bởi vậy sức ép lên các assistant prof khá nặng nề. Các sinh viên PhD còn đang ngồi trên ghế nhà trường cũng phải chuẩn bị đăng bài từ rất sớm, nếu như họ muốn theo đuổi nghiệp nghiên cứu sau khi tốt nghiệp.
    Prof Kwan Choi hướng dẫn đăng bài trên Top Journal.
    http://www.roie.org/howi.htm

    VI/ Chuẩn bị tốt nghiệp và tìm việc làm

    G.S Cawley và Laibson hướng dẫn về quảng cáo thông tin tìm việc, phỏng vấn tìm việc làm ở Mỹ cho các sinh viên chuẩn bị tốt nghiệp PhD:
    http://www.economics.harvard.edu/files/LaibsonNotes.pdf
    http://www.aeaweb.org/joe/articles/2003/cawley_2003.pdf

    Các bạn cũng có thể tìm thấy trên trang của NBER, hồ sơ của rất nhiều các PhD candidate đang là đối thủ cạnh tranh của mình trên thị trường việc làm.
    http://www.nber.org/candidates/
    VII/ Một số lời khuyên dành cho các bạn khi xin học ngành Kinh tế học tại Mỹ

    FAQ?
    General Advice From Current Economics PhD Students To Eager Undergrads
    How do you set yourself apart from the pack when applying to grad schools.
    Some answers to the "set yourself apart" question from current PhD students
    How many grad schools should you apply to and how do you choose which schools.
    Some answers to the "How Many" question from current PhD students. http://dinhvutrangngan.com/advice.htmlhttp://dinhvutrangngan.com/teaching... for Applying to Grad School in Economics.pdf Website:

    http://www.urch.com/forums/phd-economics/
    [1]www.econphd.net/
    The Sveriges Riksbank Prize in Economic Sciences in Memory of Alfred Nobel 1969-2006
    nobelprize.org/nobel_prizes/economics/articles/lindbeck/index.html
    Prof Dan Hamermesh cũng cho một số lời khuyên chung về các vấn đề đã nêu ở các mục trên.
    http://www.eco.utexas.edu/faculty/Ha...conomists.html
    Vito and Dream to success like this.
  2. hnguyen Admin

    Làm thành viên từ:
    8 Tháng tư 2009
    Số bài viết:
    1,742
    Đã được thích:
    877
    Điểm thành tích:
    113
    Giới tính:
    Nam
    Nghề nghiệp:
    623 (paper-based), 97 (iBT)
    Nơi ở:
    Columbia, Missouri
    Web:
    Reputation:
    0
    Đây là một kinh nghiệm cực kỳ thực tế cho các bạn apply ngành Economics từ bạn Phong bên VietPhD
    ==
    Hi các bác.
    Em đọc ké diễn đàn từ lâu lắm rồi và đặc biệt quan tâm đến cái thread này (vì em cũng thuộc dạng profile còi (bằng TB-K, IELTS 6.0) mà muốn học cao, lại không có money để tự đi học nữa).
    Năm vừa qua em apply 8 chương trình Master về Economics, trong đó 4 chương trình đã có kết quả. Em fail 2 chương trình của Tây Ban Nha, và nhận admission của QEM - Paris 1 và MEC - University of Trento, riêng Trento được miễn học phí và cho 6700 Eu/năm. Hiện em đang chờ kết quả 4 chương trình nữa, nhưng cũng khá tự tin.
    Kinh nghiệm em thấy là Letter of recommendation cực kì quan trọng. Nếu người viết LOR nối tiếng và nhận xét tốt về mình thì trường cũng chả để ý lắm đến điểm đại học của mình đâu.
    2 chương trình đầu em apply là của Alicante và Universidad of Carlos III de Madrid, mọi thứ giống hệt 2 hồ sơ về sau, có điều xin LOR của các thầy ở trường cũ (đại học thủy lợi) -> trượt thẳng cẳng.
    2 chương trình sau, được 1 thầy trong trường cũ chỉ cho, em đổi chiến thuật, tham gia 1 khóa học Pre - Master của trung tâm nghiên cứu kinh tế, quản lý và môi trường(VCREME) của trường Đại học Vạn Xuân do thầy Lê Văn Cường - giám đốc trung tâm nghiên cứu kinh tế đại học Paris 1 làm giám đốc.
    Cuối đợt học em được nhận chứng chỉ và nhận thư giới thiệu của thầy Cường.
    Em gộp thêm cái chứng chỉ này vào bộ hồ sơ cũ và xin reference letter từ thầy Cường và từ 1 thầy khác cũng ở dạy em ở trung tâm này rồi gửi cho Chương trình QEM - Paris 1 và MEC của Trento, chỉ khoảng 1 tuần sau em đã báo được nhận vào 2 chương trình này, thậm chí Trento còn cho cả bổng. Điều mà em chả bao giờ nghĩ đến.
    Thế nên các bác nào mà có lỡ học hành làng nhàng như em thì cố gắng gây ấn tượng với các Prof có uy tín để xin được Letter of Recommendation ngon thì em nghĩ sẽ cái thiện đáng kể hồ sơ.

    Nếu bác nào muốn học về Economics, Finance và Bussiness thì em đặc biệt khuyên các bác nên học 1 khóa premaster ở VCREME (http://www.vcrem.edu.vn), vừa chuẩn bị kiến thức lại vừa có cơ hội cao nhận thư giới thiệu của các giáo sư người Việt tai nước ngoài.
    Em học là khóa đầu tiên, có 4 môn băt buộc thì Marco và Econometrics do DR Thanh LE - Assist Prof của Queensland dậy, Micro do thầy Nguyễn Khắc Minh - giám đốc cao học hà lan dạy, và Math Economics thì do thầy Trần Vũ Thiệu - giáo sư tại viện toán dậy.
    Nếu các bác thi xong mà trung bình các môn trên 65% và không môn nào dưới 50% thì thầy Cường và các thầy giáo sẽ cung cấp thư giới thiệu cho các bác. Các thày quan hệ rộng nên thư giới thiệu của các thầy đặc biệt có giá trị.
    Em nghĩ có lẽ đây là điểm đặc biệt nhất trong cái hồ sơ của e và có lẽ đây cũng là 1 cách hữu ích để vừa chuẩn bị kiến thức vừa xin được LOR tốt.
    Hy vọng sẽ giúp ích được mọi người.
    Vito thích bài này.
  3. Canhpx Member

    Làm thành viên từ:
    12 Tháng chín 2008
    Số bài viết:
    280
    Đã được thích:
    6
    Điểm thành tích:
    18
    Reputation:
    0
    Đọc bài của anh Hiển chia sẻ từ VietPhD thấy thực sự hữu dụng. Cái giỏi của bạn trên là đã đưa ra được chiến thuật phù hợp với Profile của bản thân để khắc phục được điểm yếu của mình. Em thấy chiến thuật của bạn là cực kỳ hay cho những người muốn chuyển ngành nói chung chứ không riêng gì việc học Econ của bạn.

    Ví dụ một Case study khác:
    LIên hệ với Case trên thì rõ ràng có thể thấy bạn em giờ cũng có thể xin được LOR khá tốt từ các sếp.

    Tóm lại, đều có cách nhỉ :">
  4. hnguyen Admin

    Làm thành viên từ:
    8 Tháng tư 2009
    Số bài viết:
    1,742
    Đã được thích:
    877
    Điểm thành tích:
    113
    Giới tính:
    Nam
    Nghề nghiệp:
    623 (paper-based), 97 (iBT)
    Nơi ở:
    Columbia, Missouri
    Web:
    Reputation:
    0
    Hi Cảnh,

    Rất nhiều người trong cuộc đời cứ tắc tị vào mấy cái chuyện bằng cấp, bảng điểm thế này thế nọ mất rất nhiều năm ròng lãng phí. Luôn có những cái barriers kiểu như thế :)

    Hay là suy nghĩ kiểu phải tốt nghiệp trường top 10 thì mới có thể xin được job này job kia :)

    Thật sự ra đó là những cái barriers rất hời hợt. Các câu chuyện trong cuộc sống đều được quyết định bởi con người. Nếu có cách nào đó để tạo relations với những người ra quyết định, người có quyển lực uy tín... thì mọi chuyện đều có những ngõ tắt diệu kỳ. Như câu chuyện của bạn trên, bạn ý đi vòng rất hay.

    Anh nhớ hồi trước đọc được ở blog của một bạn câu chuyện của một bạn học Public policy xin việc mỏi cổ không được. Chán đời vào quán bar gọi nước ngọt uống (không gọi bia). Trong quán nói chuyện với một ông khách ở đó về policy của Mỹ. Hôm sau được ông đó offer job luôn làm ở Congress.

    Con người là tất cả. Nếu có chẳng may mình đi làm chân quét nhà cho ông chủ Mỹ nào và có cơ hội chat chit với ông ta, impress được ông ta về mind và heart thì con đường tiến xa lắm. Mình chẳng thế bay cao nếu thiếu cánh được chắp :kis2:
    kiatisak thích bài này.
  5. bitterchocolate Member

    Làm thành viên từ:
    2 Tháng tư 2009
    Số bài viết:
    51
    Đã được thích:
    18
    Điểm thành tích:
    8
    Nghề nghiệp:
    110
    Nơi ở:
    Singapore
    Reputation:
    0
    Em la em rat thich philosophy của anh Hiển :x. Từ hồi còn bé, papa của em đã luôn bảo với 2 đứa con là` "không có gì bằng lòng quyết tâm và nghị lực của con người". Nói chung là "there's will, there's way" moi nguoi nhi :)
  6. nhimxuus New Member

    Làm thành viên từ:
    12 Tháng tám 2011
    Số bài viết:
    25
    Đã được thích:
    3
    Điểm thành tích:
    3
    Reputation:
    0
    A Hiển nói đúng. Đồng ý hai tay.

    Nhưng (ghét chữ này thế không biết) trong cả quá trình chiến đấu với American Dream chắc không ít người than thở và chán ngán cái Profile ít thành tích và không ... kêu leng keng của mình.

    Quan trọng là nhận ra điểm yếu và tìm cách khắc phục; kiên quyết theo con đường đã chọn.

    Để làm được điều đó rất cần có động lực và động viên của các bậc tiền bối (ngoài nỗ lực cá nhân).

    Mong các bậc tiền bối chỉ bảo các hậu bối!
    :fist:
  7. hnguyen Admin

    Làm thành viên từ:
    8 Tháng tư 2009
    Số bài viết:
    1,742
    Đã được thích:
    877
    Điểm thành tích:
    113
    Giới tính:
    Nam
    Nghề nghiệp:
    623 (paper-based), 97 (iBT)
    Nơi ở:
    Columbia, Missouri
    Web:
    Reputation:
    0
    Hi Thúy,

    Anh nghĩ một cách tốt để có sự giúp đỡ của các tiền bối, nhất là những người có tâm là: em thử gom một số bạn cùng ý tưởng vào thành một nhóm khoảng 3-4 người. Có một buổi gặp mặt hàng tuần để trao đối về vấn đề mình thích. Sau đó brainstorm xem có tiền bối nào cả nhóm thích và kính nể và contact họ, bảo là chúng em là một nhóm bạn ham thích tiếng Anh hay kinh tế học... cần người hướng dẫn, rất mong anh chị giúp and go from there.

    Ở Mỹ cũng thế, mình lạ nước lạ cái nhưng anh thấy nếu mấy sinh viên tạo thành một nhóm discussion group và nhờ một professor làm leader/mentor, khả năng cao sẽ được giúp đỡ. Sau đó prof có thể giới thiệu thêm các người khác để giúp nhóm.

    Hiển
  8. hnguyen Admin

    Làm thành viên từ:
    8 Tháng tư 2009
    Số bài viết:
    1,742
    Đã được thích:
    877
    Điểm thành tích:
    113
    Giới tính:
    Nam
    Nghề nghiệp:
    623 (paper-based), 97 (iBT)
    Nơi ở:
    Columbia, Missouri
    Web:
    Reputation:
    0
  9. chatdem Active Member

    Làm thành viên từ:
    28 Tháng sáu 2010
    Số bài viết:
    23
    Đã được thích:
    122
    Điểm thành tích:
    28
    Reputation:
    0
    Mình cũng là người rất qua tâm đến lĩnh vực này, qua tham khảo mình thấy rào cản, có lẽ là lớn nhất để sv kinh tế của Việt Nam apply thành công vào một chương trình kinh tế tốt ở bên Mỹ (top 50) là vấn đề background về toán. Hồi xưa khi còn là sinh viên trường kinh tế, mình nhớ chỉ được học 02 học kỳ về toán (chủ yếu là đại số tuyến tính và giải tích theo hướng tính toán là chủ yếu, ko phải proof based), kể cả sinh viên khoa toán kinh tế mình cũng ko thấy có nhiều khoá toán để lựa chọn.

    Cũng nên nói thêm là khác với các adcom của các nước khác (chẳng hạn Úc) chỉ coi trọng GPA (điểm trung bình của tổng số môn học), adcom ở Mỹ cực kỳ coi trọng vào môn học thành phần ở 2 khía cạnh: độ khó của môn học và điểm đạt được của môn học. Điều này cũng dễ hiểu, do bên Mỹ sinh viên được tự chọn môn học (trừ môn core), sinh viên có thể tăng GPA của mình đơn giản chỉ bằng cách chọn những môn học không khó, hoặc những môn học phù hợp với background của họ, hoặc vào những môn học thày giáo thường hay cho điểm cao (ở bên Mỹ một số trường công bố thông tin về grade distribution của các lơp học, sinh viên có thể tự tham khảo để biết prof nào cho điểm dễ, prof nào cho điểm khó). Với lại xét cho cùng, việc nhìn vào điểm từng môn cũng là phù hợp vì các môn này mới phản ánh thí sinh có được kỹ năng cụ thể gì (có đủ kỹ năng toán cho Ph. D econ hay ko?), còn GPA do là chỉ tiêu tổng hợp nên ko cung cấp được thông tin đến mức độ chi tiết như vậy.

    Thông thường Phd candidate ở bên Mỹ có background mèng nhất về toán cũng bao gồm 3 học kỳ về giải tích (Calculus I, II, III; trong đó Cal III thường là cho multivariate variable), 1 học kỳ về đại số tuyến tính (linear algebra), và có thể một học kỳ về phương trình đạo hàm (differential equation). Những ứng cử viên mạnh thường có thêm các khoá về toán phân tích (real analysis), lý thuyết xác suất (probability, rất rigorous xây dựng trên nền tảng của measure theory), thậm chí cả topology - đây là một dạng toán lý luận dựa trên đặc tính của điểm (point) và tập hợp (set) là nền tảng của analysis... sơ sơ đã hơn 10 khoá (một số khoá cấp cao như analysis, hoặc probability còn học 2 học kỳ ),... Khoá học cực kỳ quan trọng mà nhiều hội đồng tuyển sinh cách trường recommend là real analysis: nói nôm na đây là nghiên cứu giải tích (calculus) dưới giác độ theory, dựa trên chứng minh. Về anlysis ở bên Mỹ có 3 cuốn kinh điển (và theo mình được biết là khó nhất, những trường hàng đầu của Mỹ Harvard, MIT, Columbia,... dùng khá nhiều để dạy cho sinh viên của họ) của cùng tác giả là nhà toán học Walter Rudin: cuốn 1 (baby rudin) principle of mathematical analysis (dùng cho advanced undergraduate); cuốn 2 - real and complex analysis; cuốn 3 - functional analysis (2 cuốn sau cho graduate).

    Những thứ này quả thật rất khó, nhưng cái gì cũng có giá trị của nó. Kỹ năng chứng minh và tư duy ở giác độ abstract của toán học sẽ giúp bạn cực kỳ nhiều trong khi học course works của Ph. D Econ và làm nghiên cứu sau này. Hiện tượng kinh tế của xã hội bản chất là phức tạp, kỹ năng toán học của bạn càng tốt thì sẽ càng đưa ra được mô hình kinh tế mô phỏng sát thực hơn đối với thực tế. Trong xây dựng mô hình ở nghiên cứu kinh tế học có sự trade off nếu mô hình của bạn càng phức tạp, giả thiết bạn dùng sát với thực tế thì bạn sẽ mô phỏng được hiện tượng tốt hơn; ngược mô hình của bạn quá đơn giản ko đòi hòi nhiều về toán thì thông thường những gì bạn mô phỏng được thông qua mô hình cũng ko sát với thực tế. Đương nhiên cũng có người ko cần dùng nhiều toán mà cũng có thể có nghiên cứu kinh tế có giá trị (vd tác phẩm kinh điển khai sinh ra kinh tế học của Adam Smith - Wealth of Nation ko hề có một chút toán nào), nhưng thực tế chỉ ra rằng những trường hợp này ko có nhiều trong phân tích kinh tế hiện đại.

    Nếu bạn nào có hứng thú muốn tìm hiểu về real analysis có thể xem video lectures tại đây:

    (Nhờ vào tiến bộ của chia sẻ thông tin trên mạng, về cơ bản chúng ta có thể access được nội dung của phần lớn những khoá học mà mình liệt kê ở trên thông qua video lecture course, chẳng hạn nếu bạn vào trang web: http://www.uccs.edu/~math/vidarchive.html, đăng ký nick miễn phí có thể access được rất nhiều khoá học quan trọng về toán của trường Colorado; hoặc nếu bạn vào youtube tìm các khoá học về toán của MIT là điều tương đối dễ dàng. Về khía cạnh truyền đạt kiến thức từ giảng viên đến học sinh mình nghĩ video lecture hoàn toàn ko thua mấy so với học thật trên lớp, có chăng là thiếu việc giao tiếp giữa người dạy và người học. Các video lecture kiểu này rất tuyệt, giúp highly motivated Ph. D candiate có thể tự học kiến thức quan trọng về toán, tuy nhiên cũng có chút nhược điểm là chúng ta ko thể có tín chỉ với việc học kiểu này (vd chúng ta ko thể trình bày với adcom là đã xem học theo video lecture này hoặc kia, tất cả nói có sách, mách có chứng làm việc dựa vào bảng điểm (transcript)).

    Background về toán thậm chí còn quan trọng hơn background về kinh tế, vì background về kinh tế ở cấp đại học (undergraduate) thường chỉ có tác dụng cung cấp sense ở mức độ nào đó cho graduate study còn việc nghiên cứu các môn kinh tế trong chương trình Ph. D thì cách tiếp cận khác hoàn toàn. Một số người còn so sánh Ph. D econ thực chất là một lĩnh vực của applied math. Background math mạnh là sự đảm bảo ở một mức độ nhất định cho thành công của những khoá core courseworks trong 02 năm đầu. Mình có đọc ở đâu đó là nếu phải so sánh một sinh viên đại học học nhiều toán và một sinh viên đại học học nhiều khoá kinh tế, thì người thứ nhất sẽ có cơ hội được chọn nhiều hơn. Các sinh viên ở bên Mỹ muốn học Ph.D kinh tế thì thông thường trong đại học họ sẽ chọn major là kinh tế và minor là math (một số người chọn ngược lại major math và minor kinh tế).

    Một kỹ năng nữa là làm việc với vi tính và phầm mềm về thống kê, mặc dù đây ko phải là requirement khi apply Ph. D econ song nó cũng là kỹ năng tương đối quan trọng khi bạn làm nghiên cứu. Bạn nào làm nghiên cứu về empirical đòi hỏi tính toán dựa trên data thì đương nhiên rồi, còn bạn nào làm về theory thì mình nghĩ cũng tốt vì có thể dùng số liệu thực tế để kiểm chứng lại lại những gì bạn nghiên cứu được. Phần mềm thông dụng nhất khi bắt đầu làm nghiên cứu tính toán của Econ là MATLAB (Stata cũng là một phần mềm tốt, song ở một giác độ nào đó nó ko thích hợp với nghiên cứu của Econ ở chỗ là nó làm giúp quá nhiều thứ, vd bạn chỉ cần gõ câu lệnh hồi quy nó sẽ cho ra kết quả hồi quy ngay lập tức; nhiều khi điều này làm mất đi phần nào đó giá trị trong việc training kiến thức của bạn. Vì chỉ khi bạn làm tính toán dựa trên những gì cơ bản (dữ liệu, ma trận, thuật toán,...) thì hiểu biết của bạn với vấn đề được nâng lên rất nhiều). Nếu bạn nào có ý định làm nghiên cứu trong những lĩnh vực đòi hỏi phải xử lý dữ liệu lớn chẳng hạn macroeconomcis hoặc time series econometrics thì ngoài MATLAB bạn cần tìm hiểu thêm về phần mềm mạnh hơn khi xử lý bộ dữ liệu lớn chẳng hạn R hoặc C++ (C++ ngoài khả năng tính toán ra nó còn là một phần mềm lập trình).

    Mình nghĩ chứ việc thiếu background về toán đối với sinh viên kinh tế nhà mình cũng dễ hiểu. Lấy ví dụ trường hợp của mình, hồi xưa thi đại học để dễ xin việc thì mình chọn học khoa ngân hàng tài chính (mọi người khác có thể chọn các khoa kế toán,...) mấy ai chọn toán kinh tế (trừ những người thật sự yêu thích lĩnh vực này). Một lý do nữa là cấu trúc của trường đại học, thông thường bên Mỹ là trường đại học tổng hợp, ngoài khoa kinh tế họ có những khoa khác như khoa toán, khoa thống kê ngay trong trường, thường thì sinh viên kinh tế muốn đăng ký học những lớp này không khó. Nếu là ở Việt Nam mình sinh viên kinh tế (chẳng hạn ở trường kinh tế quốc dân, hoặc bất cứ trường kinh tế nào khác,...) muốn học khoá toán nâng cao như kiểu real analysis thì cũng bó tay, chưa kể thời mình học đại học (cách đây ngót ngét 10 năm) sinh viên còn ko được lựa chọn môn học.

    Bên cạnh background về toán thì cái quan trọng là thư giới thiệu, những sinh viên vào được trường top như Harvard, MIT, Yale,... là kết hợp của background về toán mạnh và thư giới thiệu của những giáo sư nổi tiếng (lý tưởng nhất là top 5% ở IDEAS hoặc fellow of econometric society,...).

    Background về kinh tế nếu chỉ dùng ở mức độ undergraduate thì yêu cầu chủ yếu là intermediate macroeconomic theory, intermediate microeconomic theory (tất nhiên để học tới khoá này đa phần sinh viên kinh tế ở đây đều học quan các khoá intro). Một số sinh viên ở bậc undergraduate serious với việc apply Ph. D econ thường chọn một số môn Ph. D kinh tế năm thứ nhất để học ở những năm cuối đại học. Nếu điểm của các môn này mà khá thì cũng sẽ tạo ấn tượng tốt đối với adcom.

    GRE thì chỉ quan trong ở chỗ, nếu điểm quá thấp sẽ làm hồ sơ bị negative nhất là phần quantitative. Quan có cao thì cũng ko nói được nhiều điều lắm vì có thể các bạn biết rồi, toán của GRE thường là của lớp 5, 6 chủ yếu dùng để kiểm tra mental math in problem solving của thí sinh hơn là kỹ năng toán học. Một số adcom của các trường tốt cũng tương đối xem trọng điểm AWA (họ yêu cầu ít nhất khoảng 4-4.5 trở lên), đáng buồn là điểm phần này của các sinh viên nhà mình thường khá khiêm tốn range phổ biến 2.5-3.5 (chưa vượt được 15% percentile).

    TOEFL thì lại càng ko quan trọng trong việc ra quyết định được nhận, theo mình hiểu đây chỉ là chỉ tiêu phụ đảm bảo khả năng ngôn ngữ của ứng viên ở mức tối thiểu để có thể học được. Thế mới có chuyện hơi funny là trường Berkeley (top 6 Econ ngang hàng Yale) lấy điểm tối thiểu của TOEFL ibt chỉ là 68. Tuy nhiên đa phần các trường yêu cầu range điểm TOEFL trong khoảng 80-100, một số trường đặt điểm tối thiểu cho kỹ năng thành phần thường là nói. Tuy TOEFL chỉ là tiêu chí rất phụ, song mình nghĩ học tốt TOEFL là rất quan trọng trong việc tiếp thu bài giảng, nếu bạn nào đã học cả bằng tiếng Việt và tiếng Anh về cùng một chủ đề sẽ thấy việc tiếp thu bài giảng bằng tiếng Việt dễ hơn đến nhường nào. Đây là một ví dụ đơn giản, có phần hơi obvious nhưng có lẽ để mọi người hiểu rõ tầm quan trọng của kỹ năng ngôn ngữ tới việc tiếp thu kiến thức. Chưa kể sau này các bạn sẽ phải đi làm trợ giảng, hoặc dạy các lớp undergraduate ở năm 2,3,.. Cuối cùng, ngôn ngữ là chìa khoá giao tiếp khi thâm nhập vào một xã hội. Nếu kỹ năng ngôn ngữ tốt bạn sẽ hoà nhập tốt, ở một giác độ nào đó, mình xem đây là yếu tố tương đối quan trọng đối với việc học.

    Research experience cũng ở mức độ vừa phải (thường ở dưới dạng RA hoặc hoặc đơn giản chỉ là thesis hoặc term paper ở bậc đại học), vì thường khó có thể kỳ vọng những người apply có bài đăng nghiên cứu kinh tế ở tạp chi lớn (vốn dành cho toàn các giáo sư đầu ngành). Tuy nhiên, có lẽ người nào có nhiều nghiên cứu dù có thể ko được pub hoặc chỉ pub ở những tạp chí nhỏ cũng sẽ thể hiện phần nào độ serious của ứng viên đối với việc nghiên cứu, dù gì Ph. D cũng là bằng dành cho nghiên cứu sinh. Ở nhà mình, vấn đề này cũng tương đối bí trong kinh tế, khác với khoa học tự nhiên thường có nhiều đề án, nghiên cứu cụ thể trong phòng thí nghiệm,v.v..., kinh tế học ở nhà mình nếu có nghiên cứu, nhất là với đề tài của sinh viên thì cũng chỉ ở mức độ khá là chung cơ bản theo hướng dánh giá vấn đề j đấy rồi nêu ra giải pháp nọ kia theo hướng empirical và nói chung thường thiếu số liệu, phương pháp luận định lượng kèm theo (nếu có thì cũng khá là sloppy); ở phía đối diện nghiên cứu theo hướng lý thuyết (theory) xây dựng, phát triển mô hình kinh tế hoặc kinh tế lượng dựa vào toán học, thì bài nghiên cứu ở nhà mình hầu như ko có,... (hay tại mình ko biết???).

    Còn về hoạt động ngoại khoá có cũng tốt vì ở mức độ nào đó thể hiện khả năng giao tiếp cũng như lãnh đạo của sinh viên, tuy nhiên mình ko nghĩ đây là tiêu chí quan trong, vì sang Mỹ học tiến sỹ kinh tế sẽ bận tối mắt tối mũi để được kết quả tốt (A- or A) đặc biệt là với những người có background yếu hoặc vừa phải, chưa kể sẽ phải tham gia giảng dạy, trợ giảng, nghiên cứu ,v.v... nên thời gian cho hoạt động ngoại khoá nếu có cũng ko nhiều.
    abcxyz1602y, kiatisak, Gumiho and 6 others like this.
  10. myngo555 New Member

    Làm thành viên từ:
    18 Tháng ba 2016
    Số bài viết:
    10
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    1
    Giới tính:
    Nữ
    Reputation:
    0
    Hữu ích quá, thanks chủ pic và admin ạ

Chia sẻ trang này